30 thg 9, 2012

NGƯỜI NÔNG DÂN LÀM THƠ

                   NGƯỜI NÔNG DÂN LÀM THƠ
 
Tôi có may mắn được cậu tôi, ông Lê Nho Lãng ‘’nhờ’’ đánh máy và biên tập tập thơ này.
             Nói như thế cho oai, chứ thực ra ông chẳng nhờ gì tôi cả. Biết ông hay làm thơ, và một số lần được nghe thơ của ông, tôi rất thích. Ông làm nhiều thơ, nhưng không phải để lưu, để in thành tập, vì thế nhiều bài đã thất lạc. Có lần được đọc một bài thơ răn dạy con cháu của ông, rất xúc động nhưng hiện thất lạc mất, tôi cứ tiếc mãi.
         Vì vậy, tôi động viên ông và xin ông cho được chép và tập hợp một số bài thơ của ông thành một tập. Có thể coi đây là một món quà tặng ông và cũng  là một kỷ niệm của ông đối với bạn bè yêu thơ như ông,với con cháu. Có thể, khi đọc những bài thơ ông làm, các con và các cháu hiểu thêm về một con người rất thân thương, gần gũi, nhưng còn khá nhiều điều  trước đây chưa  hiểu  về  ông.

          Cậu tôi là em út trong một gia đình  nông dân có 4 chị em. U già tôi là chị cả, bà Lê Thị Tải  năm nay 97 tuổi ( được phong tặng Bà mẹ Việt Nam anh hùng, được Học viện Hậu Cần Quân đội NDVN phụng dưỡng). Chị thứ 2 của ông là bà Lê Thi Nhỡ lấy chồng là ông Lê Doãn Vị cùng thôn.
        Anh của cậu là ông Lê Nho Sất, tính cần cù,chịu khó ; đôn hậu, hiền lành, nhường chị nhịn em.
        Ông nội của cậu tôi là cụ Thượng Năm ( cụ Lê Nho Bân ) làm thầy lang và dạy học chữ nho. Bố của ông là cụ Lê Nho Xiển, hiền lành phúc hậu.
       Lúc bé, tôi hay vào ‘‘trong trại’’ là nơi ở của các ông bây giờ, gần điếm Chòi xóm Giếng.  Vào đấy được chơi nhiều trò chơi như đánh khăng, trốn tìm với chúng bạn, lấy nhựa ở cây ô-dô cho vào cái ống tre nhỏ để thổi bong bóng như bong bóng xà phòng, trèo ổi, bắt chim…Có lần cụ Xiển còn giữ chân thang để cho tôi trèo lên bắt một tổ chim sẻ. Cụ hướng dẫn tôi làm một cái que, đầu que buộc tóc rối để móc vào chân bọn chim non từ đó có thể lôi được chúng từ ống tre hoành nhỏ  ra ngoài. Sau khi bắt được chim xong, cụ làm thịt, nướng lên và chia cho mỗi cháu một miếng thịt chim nhỏ xíu. Sao mà thơm và ngon thế !
      Ông Lãng sinh năm 1932. Như trong nhiều gia đình khác, đã là con út thì hay được ‘nuông chiều’’- dĩ nhiên là theo điều kiện của một gia đình nông dân trước kia. Ông được học chữ nho một số năm, và sau này học chữ quốc ngữ. Nghe ông nói lại, ông được học chữ nho từ năm lên 7 đến năm 14 tuổi. Học chữ quốc ngữ từ năm 1944 đạt đến trình độ  tương đương lớp 9 bây giờ .
          Về đường vợ con, ông khá vất vả. Bà cả Lê Thị Dậu, người họ Lê Doãn, sinh cho ông được 3 người con ( 2 gái một trai ) rồi sớm mất do mắc bệnh hiểm nghèo.
     Bà hai của ông - bà Đỗ Thị Tý- cũng  đẻ thêm cho ông 5 người con nữa . Ông bà vất vả nuôi các con rồi bà cũng sớm mất.
   Ông lớn lên trong thời kỳ cả nước đang  kháng chiến chống thực dân Pháp (1946-1954). Lúc còn thanh niên, ông tham gia du kích chống Pháp, hòa bình lập lại, ông tham gia công tác ở địa phương.  Có những khi định xin đi công tác thoát ly, nhưng vì gia cảnh ông lại phải ở nhà chăm lo gia đình. Trong thời kỳ chống Mỹ, sau khi có lệnh tổng động viên, năm 1968 ông tham gia quân đội gần 2 năm, sau đó  do cao tuổi được về quê sản xuất nông nghiệp ở HTX cho đến tuổi già.
    Có thể vắn tắt rằng : ông là một trong những người  không  gặp nhiều  may mắn. Nhưng ông  vẫn lạc quan, yêu cuộc sống, yêu và hay làm thơ.  Một bút danh ông  hay dùng là Lương Nguyệt Anh. (Trong chữ Hán, chữ Lương và chữ Nguyệt ghép với nhau thành chữ Lãng ). Bài Làm thơ của ông có thể coi như ‘‘tuyên ngôn’’ về  sở thích trí tuệ này : 
                                                                                                                               
Làm thơ đâu có phải là nghề
Mình thích thành ra cũng hóa mê.
Câu viết chưa nghiêm, nhờ bạn sửa,
Lời còn thiếu ý, cậy người phê.
Hứng ngâm cũng thú khi nhàn rỗi,
Ngẫu độc cho khuây lúc bộn bề.
Mình đọc thơ mình, mình cũng thú ;
       Mặc cho thiên hạ kẻ khen chê.

Những vần thơ phản ánh hiện thực và mang tính thời sự : Thơ ông viết để ghi lại những sự kiện, những diễn biến hàng ngày của một thời chiến tranh, một thời hòa bình, có lúc đói ăn, lụt lội, sản xuất khó khăn và sau này là đất nước quê hương đổi mới.Đó là các bài Dân công chiến dịch, Chờ chỉ thị, Gặp bạn hay là Quê hương ngày lụt.
Những người già hay kể chuyện xưa.Bọn trẻ bây giờ không thích  nghe dù chưa xưa lắm. Ông không kể, nhưng bài thơ ông làm thời đói khi mới hòa bình (sau kháng chiến chống thực dân Pháp) nhắc cho cháu con biết đến cái đói năm nào :
Trưa về, con gọi: bố ơi!
Khoai vừa luộc chín bố sơi lót lòng.
Nghe con trong dạ bòng bong,
Miếng cơm lót lòng mà trẻ cũng không.
Vợ hiền tần tảo tây đông
Khoai để phần chồng sữa thiếu nuôi con.
Gạo vừa đong được mấy lon,
Dành cho đứa bé mới tròn một năm.
Kêu trời chẳng dám hé răng,
Người cày thiếu gạo trời chăng hỡi trời?

Không ai muốn cái khổ, cái đói quay về, nhưng được như ngày hôm nay, con cháu phải biết ơn các bậc sinh thành xưa kia đã phải chịu khổ, đã hy sinh vì phải lo cho con cháu như thế nào. Làm thế nào để thế hệ sau hơn các thế hệ trước về đường làm ăn, học hành… nhưng vẫn giữ được nề nếp gia phong, luôn cần cù, đoàn kết đùm bọc yêu thương nhau. Các cụ ta đã từng dạy bảo và mong : Con hơn cha là nhà có phúc.

 Trong những tháng năm cả nước lên đường Chống Mỹ, toàn dân tiễn đưa, động viên con em lên đường đánh giặc.Ông làm thơ, động viên con cháu :

..Xếp bút nghiên theo việc quân nhung.
Nam nhi thỏa chí anh hùng
Dòng hào kiệt anh hùng như thử.
Văn trung chẳng hổ tài nam tử,
Vũ tại lưu phương tiếng thế gia.
Chiến trường thỏa sức xông pha
Mừng thắng trận như hoa đương nở rộ!

    Ngay cả những sự kiện như  trong ‘’Tết đến’’ : Tết đến mà trời vẫn gió heo/Dân ta xem vẫn chửa qua nghèo!/Bà kia tức nỗi ngô chưa mọc,/Bác nọ bực vì mạ chửa gieo./Rúc rích ngoài đồng bao chú chuột/Gậm gừ xó bếp mấy anh mèo/Khó khăn xem vẫn còn chưa khỏi…hay việc khánh thành nhà thờ họ, sự kiện 1000 năm Thăng Long … cũng được thể hiện trong thơ ông .

         Những vần thơ mang tính triết lý, nhân văn sâu sắc
Thơ ông luôn thể hiện tinh thần lạc quan yêu đời ,yêu cuộc sống dù còn gian khó. Thú canh điền là một ví dụ :

Nhàn sĩ trước lấy canh điền làm thú,
Buổi sớm chiều cũng đủ tiêu dao.
Đường kinh luân khéo ‘vắt, giật, ra vào’
Cho họ rõ thanh cao và độ lượng.
Khi mưa thuận thú chơi cờ tướng,
Lúc gió hòa vui uống rượu tiên.
Vua Thuấn xưa cũng bậc thánh hiền,
Mà đế nghiệp tương truyền là nông giả.
Ông Y Doãn canh vu hữu sàn chi dã
Giúp vua Thang lên nghiệp bá lâu dài
Thì canh điền xem cũng chẳng thua ai!

Vui  với Thú điền viên, ông vẫn tự hào gốc gác là người làm ruộng (…Đã hay nông giả là chi bản/Đừng bảo ta đây kém nước bài) của một miền Văn Hiến:
Trung Thôn văn hiến- một làng thơ
Trăng gió phong lưu lắm khách chờ.
Trên bến đèn cười trăng đáy nước,
Bên hồ liễu cợt nhện leo tơ.
Hoa thơm quả ngọt người ao ước,
Bút ngọc nghiên vàng kẻ mộng mơ.
Mặc khách tao nhân ai cũng biết:
Trung Thôn văn hiến- một làng thơ.

Có những đêm Thao thức, nghĩ về quy luật của cuộc sống : Thao thức đêm thâu cứ nghĩ hoài/Nỗi niềm tâm sự ngỏ cùng ai?/Đời dù trăm tuổi cho là ngắn,/Đêm thức năm canh mới biết dài./Con tạo khéo quay vòng tối sáng,Sao trời còn có để Hôm, Mai./Canh tàn lại thấy chân trời hửng… và ông nhắc nhở mình:

                       

Chén rượu tỉnh, say: lo giữ thiện,
Vần thơ, câu chữ : chọn điều nhân.

Nhưng không chỉ lo về mình, ông luôn luôn lo và muốn nhắc con, nhắc cháu :
Măng non phải tựa tre già,
Cây cao nhờ đất vốn là nơi sinh.
Núi cao khói cũng vươn mình,
Khói tan núi vẫn nguyên hình như xưa.  

vì những người già luôn luôn lo cho con cháu cho đến cuối đời :
        Cạn nguồn nước vẫn chẩy cho sông.

      Ông nhắc con cháu phải đoàn kết, đừng như lũ gà chọi:
Cùng chung một giống khác chi đâu?
Tức khí  ru mà đá lẫn nhau?
Con ở trong sân khoe nhọn vuốt,
Con bên lề sới cậy cao đầu.
Hung hăng những tưởng mình hơn hẳn,
Xô xát nên mình phải chịu đau.

Phải chịu thương chịu khó lao động, học tập, tu dưỡng rèn luyện vì ngày mai tươi sáng :
…Có công mài sắt phải đâu hoài,
Có chí thì trời chẳng phụ ai.
Cá vượt vũ môn đừng bảo ngắn,
Tàu qua biển bắc chớ kêu dài.
Trồng cây tươi tốt nhờ hôm sớm ;
Ăn quả ngọt bùi , hẳn một mai…

Về nghệ thuật làm thơ : Thơ ông được viết bằng nhiều thể loại : thơ lục bát, song thất lục bát, thơ tự do…nhưng ông hay làm 2 thể thơ mà những người trẻ tuổi ít biết làm : đó là thơ theo thể hát ca trù và thơ đường luật. Đó là hai thể thơ rất khó làm, thường những người cỡ tuổi tôi trở xuống là không hiểu  lắm.
 Tìm hiểu thêm thì được biết: Thơ Đường luật hay Thơ luật Đường là thể thơ cách luật xuất hiện từ đời Đường  (Tang). Thơ Đường luật gọi là thơ cận thể để đối lập với thơ cổ thể, không theo cách luật ấy. Vì giáo dục, thi cử... đều bằng chữ Hán, nên từ lâu người Việt Nam đã sáng tác thơ văn bằng chữ Hán, trong đó có thơ theo luật Đường. Nguyễn Thuyên là người đầu tiên đưa tiếng Việt vào thơ văn, đặt ra thể thơ Hàn Luật, là sự kết hợp thơ Đường luật với các thể thơ.Thể loại thơ này của Việt Nam kéo dài cho đến nửa đầu thế kỷ 20. Kể từ phong trào Thơ Mới trở đi, người Việt rất ít làm thơ theo luật Đường.
           Bố cục một bài thơ Thất ngôn bát cú Đường luật gồm 4 phần: Đề, thực, Luận, Kết. -"Đề" gồm 2 câu đầu,câu đầu goị là câu phá đề, câu thứ 2 gọi là câu thừa đề, chuyển tiếp ý để đí vào phần sau. -"Thực" gồm 2 câu tiếp theo, giải thích ró ý đầu bài. -"Luận" gồm 2 câu tiếp theo nữa, phát triển rộng ý của đầu bài. -"Kết" là 2 câu cuối, kết thúc ý toàn bài.Thơ Đường luật nghiêm khắc ở 3 chỗ: Luật, Niêm và Vần. Về hình thức, thơ Đường luật có các  dạng thất ngôn bát cú" (tám câu, mỗi câu bảy chữ) được xem là dạng chuẩn, biến thể có các dạng thất ngôn tứ tuyệt" (bốn câu, mỗi câu bảy chữ), ngũ ngôn tứ tuyệt" (bốn câu, mỗi câu năm chữ, “ngũ ngôn bát cú" (tám câu, mỗi câu năm chữ) cũng như các dạng ít phổ biến khác. Người Việt Nam cũng tuân thủ hoàn toàn các quy tắc này.
    Luật thơ Đường căn cứ trên thanh bằng,thanh trắc và dùng các chữ thứ 2-4-6 và 7 trong một câu thơ để xây dựng luật. Thanh bằng gồm các chữ có dấu huyền hay không dấu; thanh trắc gồm các dấu: sắc, hỏi, ngã, nặng. Nếu chữ thứ 2 của câu đầu tiên dùng thanh bằng thì gọi là bài có "luật bằng"; nếu chữ thứ 2 câu đầu dùng thanh trắc thì gọi là bài có "luật trắc". Trong một câu, chữ thứ 2 và chữ thứ 6 phải giống nhau về thanh điệu, và chữ thứ 4 phải khác hai chữ kia. Ví dụ, nếu chữ thứ 2 và 6 là thanh bằng thì chữ thứ 4 phải dùng thanh trắc, hay ngược lại. Nếu một câu thơ Đường mà không theo quy định này thì được gọi "thất luật".
         Nguyên tắc cố định của một bài thơ Đường là ý nghĩa của hai câu 3 và 4 phải "đối" nhau và hai câu 5, 6 cũng "đối" nhau. Đối thường được hiểu là sự tương phản (về nghĩa kể cả từ đơn, từ ghép, từ láy) nhưng bao gồm cả sự tương đương trong cách dùng các từ ngữ. Nếu một bài thơ Đường mà các câu 3, 4 không đối nhau, các câu 5, 6 không đối nhau thì được gọi "thất đối’’.
     Các câu trong một bài thơ Đường giống nhau về luật thì được gọi là "những câu niêm với nhau" (niêm = giữ cứng, ở đây được hiểu là giữ giống nhau về luật). Hai câu thơ niêm với nhau khi nào chữ thứ nhì của hai câu cùng theo một luật, hoặc cùng là bằng, hoặc cùng là trắc, thành ra bằng niêm với bằng trắc niêm với trắc. Ở những câu theo nguyên tắc là cần phải niêm, nếu tác giả sơ xuất mà làm thành không niêm thì bài đó bị gọi là "thất niêm".Nguyên tắc niêm trong một bài thơ Đường chuẩn (thất ngôn bát cú) như sau:câu 1 niêm với câu 8 câu 2 niêm với câu 3 câu 4 niêm với câu 5 câu 6 niêm với câu 7.
    Vần là những chữ có cách phát âm giống nhau, hoặc gần giống nhau, được dùng để tạo âm điệu trong thơ. Trong một bài thơ Đường chuẩn, vần được dùng tại cuối các câu 1, 2, 4, 6 và 8. Những câu này được gọi là "vần với nhau". Nếu một bài thơ Đường mà chữ cuối của một trong các câu này không giống nhau về vần thì được gọi "thất vận".Những chữ có vần giống nhau hoàn toàn gọi là "vần chính", những chữ có vần gần giống nhau gọi là "vần thông". Hầu hết thơ Đường dùng vần thanh bằng, nhưng cũng có các ngoại lệ.
Biến thể: Ngoài dạng thơ Đường chuẩn luật là "thất ngôn bát cú" còn có các biến thể sau
Thất ngôn tứ tuyệt Thực chất là một bài "thất ngôn bát cú" đem bỏ đi bốn câu đầu hoặc bốn câu cuối. Luật bằng trắc và niêm, vần... vẫn giữ nguyên, có thể bỏ luật đối ở hai câu 3, 4 hoặc 5, 6. Lúc này nó sẽ thành một bài thơ "bốn câu ba vần’’.
 Ngũ ngôn tứ tuyệt Thực chất là bài thất ngôn tứ tuyệt đem bỏ đi hai chữ đầu ở mỗi câu; các chữ còn lại vẫn giữ nguyên luật bằng trắc, niêm và vần.
Ngũ ngôn bát cú Cũng là từ bài thất ngôn bát cú bỏ hai chữ đầu ở mỗi câu mà thành, luật bằng trắc, niêm và vần ở các chữ còn lại vẫn giữ nguyên. ( Nguồn : Từ điển bách khoa mở VI.WIKIPEDIA)
      Nhiều bài thơ của ông mang tính trào phúng cao. Ông  tự diễu mình là  ‘’ vô tích sự’’ :
    Vô tích chăng hay cái tuổi già?
                        …Nghe kể chuyện ngan thành chuyện vịt,
Trông qua con cuốc hóa con gà.
Sớm chiều lẩm bẩm thơ cùng phú,
Năm tháng say sưa rượu với trà.

Nhưng trong con người ấy vẫn luôn luôn quan tâm, nghĩ đến nhiều người khác : con cháu và những người thân, họ đương, làng xóm, bạn bè, nhất là các thi hữu. Ông có tài quan sát và  nhân cách hóa . Trong Cơn mưa đầu hè, các con vật được mô tả rất sinh động :

Ngoài vườn inh ỏi tiếng ve ve
Con ong tìm tổ còn nhơ nhác
Cái bướm bên hoa vẫn cập kè
Chú ếch nhìn trời lòng hậm hực
 Bày giun trách đất giọng lè nhè
Hưu hưu gió thổi tầu tiêu vỗ
                              Cóc nhái bên hồ nhấp nhổm nghe
 Xem tranh Đông Hồ, ông kể tên nhiều bức tranh và ca ngợi vẻ đẹp một loại hình nghệ thuật  của quê hương vùng Kinh Bắc :

Làng tranh khéo điểm nét thanh hồng,
Phúc Lộc vào nhà cảnh thú không?
Tranh lợn no nê nằm thủ thỉ,
Tranh gà lích tích chạy lông bông.
Tranh ông đồ Cóc người qua ngắm,
Tranh ả hứng dừa  kẻ đứng trông.
Nét họa dân gian-hồn giấy điệp
Cho ngày xuân mới cảnh vui chung.
                       *
                    *     *
 Xuân Nhâm Thìn 2012 này, ông tới tuổi Tám Mươi. Nhân ‘‘sự kiện’’ này, ông tự chào  mình bằng 2 bài thơ theo thể đường luật . Một bài bằng chữ Hán :

            BÁT TUẦN TỰ THỌ  (1)
Niên tân cảnh sắc nhật tân tân
Tùy bút ngô đăng thọ bát tuần.
Hoang tửu tam bôi, ngu hạ nhật
Thanh trà nhất trản lạc phùng  xuân.
Phong phi tùng bách vô diêu thụ,
Tuế nguyệt tu ni mạc nhiễm trần.
Vũ lộ tư bồi lan quế mậu;
Hoài ân tiên tổ đức nhân huân.
                                               ( Tự tay ông viết bằng chữ Hán rất đẹp )
   và bài
                BÁT TUẦN TỰ THỌ  (2)
Đón Tết mình vui tuổi bát tuần,
Mừng nay xã hội buổi canh tân.
Chưa từng tắm gội ơn mưa móc,
Mà vẫn ung dung chốn dặm phần.
Chén rượu tỉnh say lo giữ thiện,
Vần thơ câu chữ chọn điều nhân.
Ơn trời nhuần đượm sân lan quế;
Mượn bút mừng xuân viết mấy vần.

Bạn thơ của ông đã tâm đắc và họa lại nhiều bài. Đó là  thú chơi tao nhã, một cách thể hiện tình cảm, chúc mừng ông  nhân dịp ông hưởng thọ Tám Mươi.

Cùng với bạn thơ của ông, những người ruột thịt và con cháu ông chúc ông khỏe, vui và trường thọ.
 Mong ông viết thêm nhiều bài thơ hay nữa cho gia đình và quê hương ,bè bạn ./.

                                                                               Mùa thu  Tân Mão 2011
                                                                                LÊ ĐÌNH NGẠN


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét