Đại Mão - Làng quê văn hiến
Chúng ta cùng về thăm Đại Mão ( xã Hoài Thượng - Thuận Thành- Bắc Ninh), một thôn lớn đông dân nhất, lại nằm ở trung tâm của xã, từ xưa Đại Mão còn được gọi là làng Giữa hoặc Trung Thôn.
Khách xa đến thăm nơi đây đều có chung một nhận xét : Đại Mão chưa thật là một làng đẹp và giàu có lắm, nhưng chất lượng cuộc sống ở đây tương đối khá. Phải chăng, khách khen nơi đây phong cảnh hữu tình, và một phần, do nơi đây có nhiều nền nếp, phong tục đẹp, con người cần cù chăm chỉ, sống vui, ấm áp tình người?Toàn thôn ( tính đến tháng 7 năm 2000) hiện có 3567 khẩu sống ở quê trong 363 hộ gia đình ,100% ngói hóa, trong đó có 30% là nhà xi măng kiên cố 1 đến 2,3 tầng. Số hộ có xe máy và máy khâu là 23 %, có máy thu hình 72%, có máy bơm nước phục vụ sinh hoạt là 43,5%, nhà tắm tương đối tốt 30,3%, có giếng nước các loại là 77%, có nhà vệ sinh đạt tiêu chuẩn 87,7% .Toàn thôn có 52 hộ gia đình mắc máy điện thoại .
( Viết thêm : Năm 2009 toàn thôn có 731 hộ,3854 khẩu.Đường bê tông từ chợ xuống đê khởi công ngày 11 tháng 12 năm 2008 Mậu Tý. Làm lại đường dọc làng bên trong từ ngày 12 tháng 6 năm 2009)
Một số hộ mua sắm được máy móc phục vụ sản xuất như :máy cưa, máy bào, máy xay xát , máy khâu , máy cày, máy bơm nước, tuốt lúa.....để phục vụ sản xuất gia đình và mở xưởng sản xuất tạo công ăn việc làm cho người lao động trong thôn.Đến tháng 4 năm 2000 , có 1517 mét đường dọc thôn được bê tông hóa; 692,5 m đường được xây vỉa, rải cấp phối và có rãnh thoát nước. Các ngõ xóm trong thôn phần lớn được lát gạch : 3700 m.Trạm bơm tưới phục vụ cho việc tưới của đồng bãi có công suất 30 KVA. Hệ thống điện dân dụng phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt trong thôn được xây dựng với số vốn hàng trăm triệu đồng . Thôn xây dựng hệ thống loa truyền thanh với quy mô 12 loa.
Năm 1995, Đình Làng ( thờ Lạc Long Việt Tổ - bị đốt năm Kỷ Sửu 1949 để tiêu thổ kháng chiến) được xây dựng lại, nay trở thành Trung tâm Văn hóa của thôn, với số vốn đầu tư 120 triệu đồng, chủ yếu do nhân dân tự nguyện đóng góp xây dựng. Trong thôn còn có một ngôi chùa ( Chùa Sùng Ân), thường xuyên được tu bổ phục vụ sinh hoạt tín ngưỡng của nhân dân.
Các ngõ xóm trong thôn còn có các ngôi nhà gọi là điếm của xóm, phục vụ nhu cầu tín ngưỡng, còn là nơi sinh hoạt tập thể của bà con trong trong xóm, ngõ trong thôn . Trước làng có Chợ Giữa là nơi phục vụ cho việc mua bán, phục vụ sinh hoạt hàng ngày của nhân dân. Hệ thống nhà trẻ, mẫu giáo cho các cháu trong lứa tuổi mầm non cũng được chú trọng xây dựng . Trong thôn còn có một khu trường học gồm 2 trường phổ thông Trung học cơ sở và Tiểu học, phục vụ cho công tác giảng dạy của gần 100 thầy cô giáo và hơn 800 hs cấp 2, hơn 1000 học sinh tiểu học trong xã , trong thôn.
Người dân Đại Mão từ xưa đến nay sống thuận hòa, nền nếp, cần cù lao động, rất hiếm có người mắc vào các tệ nạn xã hội . Trật tự an ninh được đảm bảo. Nơi đây có khá nhiều truyền thống, phong tục hay.
+ Truyền thống ham học tập và tôn sư trọng đạo
Người Việt ta thường nói : Đất lề,quê thói. Làng Đại Mão từ xưa có câu ca : Đại Mão có lịch, có lề/Có ao tắm mát, có nghề cửi canh/ Là đất ham học,ham hành.
Một trong những điều tạo nên cái ''lề" ở thôn Đại Mão có lẽ là một làng quê ham học. Các cụ ngày xưa ở đây quan niệm đi học cho biết chữ, biết đạo thánh hiền. Cho nên , mọi nhà ở đây đều cố gắng vượt mọi khó khăn, tạo điều kiện cho cháu con học tập. Nhà có điều kiện thì cho con cháu học nhiều, học lâu hơn. Nhà không có điều kiện thuận lợi thì đi học ít hơn, nhưng luôn phải cố gắng hết sức. Học lấy dăm ba chữ để làm người. Một làng ngày xưa không đông dân như bây giờ mà nhiều người ham học tập và đỗ đạt cũng tương đối nhiều .
Làng có một Văn Chỉ , một Văn Miếu cấp tổng, cấp làng, có hàng bia khắc tên những người đỗ đạt từ Tú tài trở lên .Theo gia phả và bia đá còn lưu lại được, người khai khoa ở đây là cụ Nguyễn Đình Khuê đỗ Tiến sĩ năm Sùng Khang thứ 10 (1556) đời triều Mạc. Cho đến khoa thi cuối cùng của thời phong kiến ( năm Ất Mão -1915) có cụ Đỗ Thúc Phách đỗ Cử nhân .Trong vòng 360 năm, hầu như khoa thi nào cũng có người đỗ đạt. Chỉ tính riêng từ Tú Tài trở lên,ngoài 4 cụ đỗ Tiến sĩ Nguyễn Đình Khuê (1556),Trịnh Đức Vận (1683), Lê Doãn Giản (1743) Lê Doãn Thân (1748) ; một Phó bảng , còn có 35 Cử nhân , 30 Tú tài.
Các vị đỗ đạt thời trước một số có ra làm quan, tham gia các cương vị quản lý xã hội, còn chủ yếu là đi làm nghề dậy học.Dạy ở trong làng trong xã, dạy ở các địa phương khác trong và ngoài tỉnh; ở đâu các Thầy Làng Giữa cũng nêu tấm gương thanh bạch,đức độ,được nhiều môn sinh tôn trọng, ca ngợi, tổ chức chúc tết, chúc thọ, làm hoành phi,câu đối ... ca ngợi công đức của thầy.
Ngày nay, người dân Đại Mão vẫn kế thừa phát huy truyền thống hiếu học của cha ông, nam cũng như nữ đều được học hành, phấn đấu trở thành những người lao động có văn hóa để góp phần dựng xây quê hương, đất nước.
+ Truyền thống sinh hoạt dòng họ - nơi tưởng nhớ cội nguồn,nơi giáo dục lẫn nhau về cương thường đạo lý
Người dân Đại Mão thường tự hào về quê hương nói chung, về dòng họ của mình nói riêng. Ngày xưa ở đây có 12 dòng họ. Ngày nay ở Đại Mão có 17 dòng họ, đó là:
+ Họ Lê có 3 dòng họ: Lê Nho, Lê Doãn, Lê Đình
+ Họ Nguyễn có 6 họ : Ba họ Nguyễn Hữu, Nguyễn Đình, Nguyễn Viết , Nguyễn Phấn.
+ Họ Vũ có 4 dòng họ : Hai họ Vũ Văn, Vũ Huy, Vũ Quang.
+ Họ Đỗ có 2 dòng họ : Cả 2 họ đều gọi là Đỗ Trọng.
+ Họ Trịnh có 1 họ Trịnh Đức
+ Họ Trần có 1 họ : Trần Hữu.
Những người trong cùng một dòng họ sống với nhau theo tổ chức chặt chẽ, nghĩa tình. Cùng chung cội nguồn, máu mủ ruột rà, họ cùng nhau nêu cao, giữ gìn truyền thống tốt đẹp của cha ông để lại, nhất là truyền thống đoàn kết, yêu thương đùm bọc lẫn nhau; cần cù lao động xây dựng quê hương xóm làng, chăm lo việc học hành và giáo dục con cháu.
Khi mỗi gia đình trong họ trong làng có những việc lớn như cưới xin, tang lễ, làm nhà, cả họ cùng với bà con trong làng đều chú ý quan tâm, trông nom công việc cho nhau như chính công việc nhà mình. Những nhà có khó khăn, khi có công việc lớn thường được quan tâm nhiều hơn, với tinh thần sẻ chia khó khăn và hết sức thông cảm.
+ Mười bảy cửa họ trong làng hiện nay, hầu hết còn có Nhà Thờ ( Từ Đường) của họ. Đó là nơi thờ cúng tổ tiên của cả dòng họ, do cả họ xây dựng lên trên một khu đất riêng. Phần lớn các nhà thờ được xây cách nay hàng trăm năm, thường xuyên được tu bổ,tôn tạo,được giao cho gia đình Trưởng họ trông nom.
Nơi ấy cũng là" trụ sở" của họ, nơi họp bàn giải quyét những công việc chung của họ,nơi tiến hành nghi lễ XuânTế Tổ và các ngày giỗ tổ hàng năm. Nơi đây có một tục lệ ( có thể là duy nhất ở Việt Nam) là ngày 10 tháng Giêng hàng năm, họ nào cũng tổ chức Xuân Tế Tổ. Con cháu ở xa ở gần, từ miền núi cực Bắc đến vùng xa ở miền Nam đều cố gắng về quê, thăm từ đường họ mạc; tưởng nhớ tổ tiên dịp đầu năm mới.
Nếu bạn có dịp vào thăm các ngôi Nhà Thờ Họ ở đây,bạn sẽ được chiêm ngưỡng những bức hoành phi,câu đối, những lời Gia Huấn mang tính giáo dục rất thâm túy, sâu sắc. Ở nhà thờ họ Nguyễn Viết có bức hoành phi “ Nhân bản hồ tổ “ ( Người ta vốn có tổ tiên ); ở nhà thờ họ Lê Nho có bức hoành phi “ Bắc sơn đức thụ “ ( Cây đức ở núi phương Bắc), ca ngợi công đức tổ tiên ; hay ở nhà thờ họ Nguyễn Hữu có đôi câu đối :
Nhất bản tư bồi vinh đức thụ
Tam chi phồn diễn triển gia phong
( Dịch : Một gốc vun trồng xanh tươi cây đức
Ba chi thịnh vượng rạng rỡ gia phong )
Các họ trong làng hầu hết vẫn giữ được Gia Phả, có những họ ghi chép nguồn gốc, sự kiện từ cách đây 4, 5 trăm năm như họ Lê Doãn, Lê Nho, Nguyễn Hữu, Đỗ Trọng, Trịnh Đức, Nguyễn Đình; ít thì cũng 300 năm như họ Lê Đình.Gia phả được ghi trên bia đá, giấy dó bằng chữ Hán và đến nay thường được dịch sang chữ quốc ngữ, đó là những di sản quý báu mà các bậc tiền nhân trong làng còn để lại. Gia phả có ghi chép nguồn gốc của dòng họ, công đức của tổ tiên, cùng những bài gia huấn, tộc ước, Gia giáo ngâm ... răn dạy cháu con.
Ví dụ “Gia giáo ngâm “ của họ Lê Doãn có đoạn:
... Vô tại tửu sắc
Vô nịch cầm kỳ
Vô hiếu tranh tụng
Vô ký thị phi
( Dịch nghiã : Chớ ham mê rượu chè, sắc đẹp
Chớ đắm chìm vào đàn hát, cờ bạc
Chớ ham việc tranh giành kiện tụng
Chớ thích việc đặt điều thị phi ...
Bài Gia huấn của cụ Lê Chu Kiều ( Họ Lê Nho ), dạy con cháu:
Tình nghĩa cha con: Cha phải hiền, con phải hiếu
Tình nghĩa vợ chồng : Phu xướng, phụ tùng
Tình nghĩa anh em : Anh hòa, em kính ; trên hòa dưới thuận
Tại hương lân : phải hết lòng yêu thương mà không yêu ghét
Nếu làm quan: phải giữ thanh khiết, cẩn thận, cần mẫn làm đầu .
Một nét văn hoá khác trong sinh hoạt dòng họ ở thôn Đại Mão là : Các dòng họ dù to dù nhỏ,đều rất tôn trọng,quý mến, đoàn kết với nhau, không chia bè kéo cánh, cậy thế cậy quyền. Các dòng họ đều gần gũi, thân thiết nhau,chung sức xây dựng một miền quê mà người dân các vùng xung quanh từ xưa đã yêu mến và ca ngợi là Đất Văn Hiến.
Qua một số nét nói trên,chúng ta cũng có thể thấy là các dòng họ ở đây là cái nôi, là môi trường giáo dục con người.
Nhiều người dân nghĩ giống như một đoạn trong Lời nói đầu của “Lịch sử họ Lê Đình (tức Gia phả - Dịch từ chữ Hán và bổ xung năm1986): “ Một trong những tình cảm cao đẹp nhất của con người là lòng yêu Tổ Quốc. Chỉ có thể có tình yêu lớn ấy khi ta đã biết quý biết yêu những gì gần gũi nhất quanh ta quanh ta như bờ tre, mái đình giếng nước quê ta. Cũng chỉ có thể yêu thương dân tộc, giống nòi khi ta đã biết yêu thương những người gần gũi nhất quanh ta : ông bà, bố mẹ, anh em họ hàng, hàng xóm láng giềng, bạn bè thân hữu..."
+ Truyền thống cần cù lao động xây dựng gia đình, xây dựng quê hương
Do hoàn cảnh tự nhiên, đất chật người đông, trước đây thường xuyên phải chống chọi với bao thiên tai,lũ lụt, nên đời sống người dân khá vất vả. Nhưng nhờ được giáo dục chu đáo cho nên các thế hệ người dân Đại Mão ngoài việc chăm học còn cả chăm làm; cần cù lao động xây dựng quê hương và gia đình mình.
Người Đại Mão chịu khó làm và làm giỏi nhiều nghề, nhất là nghề nông : cấy lúa đồng nhà, có khi còn đi vỡ hoang hàng trăm mẫu ruộng ở xa hàng chục cây số để cày cấy. Họ trồng ngô, trồng mía, trồng đỗ, trồng đay, các loại rau màu phục vụ sinh hoạt và xuất khẩu. Gần đây nhất là khôi phục lại nghề trồng dâu nuôi tằm. Ngoài ra, họ còn giỏi làm nghề thủ công; dệt vải vuông khổ hẹp rồi khổ rộng,dệt màn, khăn bông... Nghề dệt từng là một nghề phát triển mạnh một thời gian dài hàng mấy trăm năm, nay chuyển sang may gia công hàng vải màn tiêu dùng trong nước và phục vụ xuất khẩu .
Người Đại Mão còn biết làm nhiều nghề khác như nghề xây dựng hoặc đi xa quê làm các công việc khác ở khắp mọi miền tổ quốc, lực lượng này có đến 6,7 trăm người. Hàng trăm người tham gia dạy học ở các cấp học,chỉ riêng giáo viên Trung học phổ thông người quê làng Giữa cũng có thể đủ để dạy ở một trường THPT. Cần cù,cơ chỉ làm ăn, chi tiêu có kế hoạch cho nên ở đây kinh tế khá phát triển, việc xây dựng cơ bản khá tốt. Cả làng không còn nhà tranh vách đất, nhiều người đã xây được nhà kiên cố 2,3 tầng. trong đó có những chủ nhân trẻ chỉ hơn 30 tuổi . Phương tiện đi lại, sinh họat vật chất và tinh thần, việc học hành của người dân nói chung thuộc loại khá trong vùng.
Một vài phong tục
Bên cạnh cái chung như nhiều làng quê Việt Nam khác , Đại Mão có những phong tục tập quán khác với các nơi, mang dáng dấp riêng và tương đối độc đáo, đáng chú ý là :
+ Tục lên lão, chúc thọ : Thể hiện sự tôn kính với người cao tuổi theo quan niệm trọng người cao tuổi ( trọng xỉ) có từ xưa tới nay. Hàng năm,cứ dịp tết đến, ai đến tuổi chẵn 60,70, 80,90,100... con cháu, họ hàng làng xóm đến chơi thăm hỏi, chúc mừng, cùng với hiện vật nhẹ nhàng, hoặc tiền, hoặc bài thơ, bức trướng...làm quà cho các cụ được lên lão.
Người được lên lão (trước đây chỉ có cụ ông, gần đây là cả cụ bà) tổ chức một bữa sinh hoạt nhẹ nhàng mời bà con họ hàng gần gũi nhất và con cháu cùng ăn, gọi là ăn cỗ khao lão.
Nói chung ở đây cỗ khao lão có quy mô hạn chế .Nhà nào có khó khăn không tổ chức được làng xóm cũng thông cảm và còn khuyên gia đình tiết kiệm, không như ở một số nơi coi như là một hình thức trả nợ miệng lẫn nhau .
Hiện nay, các cụ được lên lão còn được mời ra Đình làng để tập thể chúc thọ vào sáng ngày mồng 2 tết. Hội Người Cao tuổi có thơ,có quà chúc thọ cho từng cụ .
+ Tục Lễ giỗ : Tất cả các gia đình trong làng, nếu ngày mai là ngày giỗ ông bà, bố mẹ hoặc người thân , thì tối hôm nay con cháu , họ đương, xóm giềng đến chơi lễ giỗ, ngồi chơi xơi nước rất đông.
Đó là một cách tưởng niệm người đã khuất, thể hiện tình cảm ruột thịt thân mật gần gũi với gia đình và những người đang sống. Đó cũng là dịp để giao tiếp, gắn bó thêm tình cảm của mọi người trong làng : Trong câu chuyện buổi tối hôm đó, có thể là câu chuyện về công đức của người xưa, có thể là chuyện sản xuất công tác, chuyện thời tiết, thời sự hoặc chủ trương chính sách mới của Đảng và Nhà nước, về chuyện học hành của con em...
Lễ giỗ là một nét sinh hoạt văn hóa độc đáo của người làng Giữa. Việc cỗ bàn hôm sau, tùy điều kiện gia chủ ai được đến mời lại ( trừ người nhà quá gần gũi được dặn từ trước ) thì mới đến ăn.
Việc đi lễ giỗ gần như không ai phải mời, mọi người tự nhớ,tự đến chơi coi như là một quyền lợi và trách nhiệm của mình vậy ./. Th. 5/ 2002
======================================
Bài viết giới thiệu về quê hương, tháng 5 năm 2002. Mới khoảng 10 năm, nhiều thay đổi quá!
Thay đổi nhiều nhất là cảnh quan làng xã. Nhà tầng nhiều hơn, đường xá khang trang hơn, ô tô, xe máy nhiều hơn, mâm cỗ đầy hơn...
Nhưng có những cái đã mất đi, dâu tằm chẳng hạn...
Có những nét đẹp mới..., nhưng cũng có cái xấu mới xuất hiện.
Mong sao quê hương ngày một đẹp, một giầu. Cái gì cũ mà lạc hậu mất đi cũng không sao.
Những gì đẹp cần giữ mãi...
Mùa thu 2011 =================================
![]() |
| Làng Đại mão |
( Viết thêm : Năm 2009 toàn thôn có 731 hộ,3854 khẩu.Đường bê tông từ chợ xuống đê khởi công ngày 11 tháng 12 năm 2008 Mậu Tý. Làm lại đường dọc làng bên trong từ ngày 12 tháng 6 năm 2009)
Một số hộ mua sắm được máy móc phục vụ sản xuất như :máy cưa, máy bào, máy xay xát , máy khâu , máy cày, máy bơm nước, tuốt lúa.....để phục vụ sản xuất gia đình và mở xưởng sản xuất tạo công ăn việc làm cho người lao động trong thôn.Đến tháng 4 năm 2000 , có 1517 mét đường dọc thôn được bê tông hóa; 692,5 m đường được xây vỉa, rải cấp phối và có rãnh thoát nước. Các ngõ xóm trong thôn phần lớn được lát gạch : 3700 m.Trạm bơm tưới phục vụ cho việc tưới của đồng bãi có công suất 30 KVA. Hệ thống điện dân dụng phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt trong thôn được xây dựng với số vốn hàng trăm triệu đồng . Thôn xây dựng hệ thống loa truyền thanh với quy mô 12 loa.
Năm 1995, Đình Làng ( thờ Lạc Long Việt Tổ - bị đốt năm Kỷ Sửu 1949 để tiêu thổ kháng chiến) được xây dựng lại, nay trở thành Trung tâm Văn hóa của thôn, với số vốn đầu tư 120 triệu đồng, chủ yếu do nhân dân tự nguyện đóng góp xây dựng. Trong thôn còn có một ngôi chùa ( Chùa Sùng Ân), thường xuyên được tu bổ phục vụ sinh hoạt tín ngưỡng của nhân dân.
Các ngõ xóm trong thôn còn có các ngôi nhà gọi là điếm của xóm, phục vụ nhu cầu tín ngưỡng, còn là nơi sinh hoạt tập thể của bà con trong trong xóm, ngõ trong thôn . Trước làng có Chợ Giữa là nơi phục vụ cho việc mua bán, phục vụ sinh hoạt hàng ngày của nhân dân. Hệ thống nhà trẻ, mẫu giáo cho các cháu trong lứa tuổi mầm non cũng được chú trọng xây dựng . Trong thôn còn có một khu trường học gồm 2 trường phổ thông Trung học cơ sở và Tiểu học, phục vụ cho công tác giảng dạy của gần 100 thầy cô giáo và hơn 800 hs cấp 2, hơn 1000 học sinh tiểu học trong xã , trong thôn.
Người dân Đại Mão từ xưa đến nay sống thuận hòa, nền nếp, cần cù lao động, rất hiếm có người mắc vào các tệ nạn xã hội . Trật tự an ninh được đảm bảo. Nơi đây có khá nhiều truyền thống, phong tục hay.
+ Truyền thống ham học tập và tôn sư trọng đạo
Người Việt ta thường nói : Đất lề,quê thói. Làng Đại Mão từ xưa có câu ca : Đại Mão có lịch, có lề/Có ao tắm mát, có nghề cửi canh/ Là đất ham học,ham hành.
Một trong những điều tạo nên cái ''lề" ở thôn Đại Mão có lẽ là một làng quê ham học. Các cụ ngày xưa ở đây quan niệm đi học cho biết chữ, biết đạo thánh hiền. Cho nên , mọi nhà ở đây đều cố gắng vượt mọi khó khăn, tạo điều kiện cho cháu con học tập. Nhà có điều kiện thì cho con cháu học nhiều, học lâu hơn. Nhà không có điều kiện thuận lợi thì đi học ít hơn, nhưng luôn phải cố gắng hết sức. Học lấy dăm ba chữ để làm người. Một làng ngày xưa không đông dân như bây giờ mà nhiều người ham học tập và đỗ đạt cũng tương đối nhiều .
Làng có một Văn Chỉ , một Văn Miếu cấp tổng, cấp làng, có hàng bia khắc tên những người đỗ đạt từ Tú tài trở lên .Theo gia phả và bia đá còn lưu lại được, người khai khoa ở đây là cụ Nguyễn Đình Khuê đỗ Tiến sĩ năm Sùng Khang thứ 10 (1556) đời triều Mạc. Cho đến khoa thi cuối cùng của thời phong kiến ( năm Ất Mão -1915) có cụ Đỗ Thúc Phách đỗ Cử nhân .Trong vòng 360 năm, hầu như khoa thi nào cũng có người đỗ đạt. Chỉ tính riêng từ Tú Tài trở lên,ngoài 4 cụ đỗ Tiến sĩ Nguyễn Đình Khuê (1556),Trịnh Đức Vận (1683), Lê Doãn Giản (1743) Lê Doãn Thân (1748) ; một Phó bảng , còn có 35 Cử nhân , 30 Tú tài.
Các vị đỗ đạt thời trước một số có ra làm quan, tham gia các cương vị quản lý xã hội, còn chủ yếu là đi làm nghề dậy học.Dạy ở trong làng trong xã, dạy ở các địa phương khác trong và ngoài tỉnh; ở đâu các Thầy Làng Giữa cũng nêu tấm gương thanh bạch,đức độ,được nhiều môn sinh tôn trọng, ca ngợi, tổ chức chúc tết, chúc thọ, làm hoành phi,câu đối ... ca ngợi công đức của thầy.
Ngày nay, người dân Đại Mão vẫn kế thừa phát huy truyền thống hiếu học của cha ông, nam cũng như nữ đều được học hành, phấn đấu trở thành những người lao động có văn hóa để góp phần dựng xây quê hương, đất nước.
+ Truyền thống sinh hoạt dòng họ - nơi tưởng nhớ cội nguồn,nơi giáo dục lẫn nhau về cương thường đạo lý
Người dân Đại Mão thường tự hào về quê hương nói chung, về dòng họ của mình nói riêng. Ngày xưa ở đây có 12 dòng họ. Ngày nay ở Đại Mão có 17 dòng họ, đó là:
+ Họ Lê có 3 dòng họ: Lê Nho, Lê Doãn, Lê Đình
+ Họ Nguyễn có 6 họ : Ba họ Nguyễn Hữu, Nguyễn Đình, Nguyễn Viết , Nguyễn Phấn.
+ Họ Vũ có 4 dòng họ : Hai họ Vũ Văn, Vũ Huy, Vũ Quang.
+ Họ Đỗ có 2 dòng họ : Cả 2 họ đều gọi là Đỗ Trọng.
+ Họ Trịnh có 1 họ Trịnh Đức
+ Họ Trần có 1 họ : Trần Hữu.
Những người trong cùng một dòng họ sống với nhau theo tổ chức chặt chẽ, nghĩa tình. Cùng chung cội nguồn, máu mủ ruột rà, họ cùng nhau nêu cao, giữ gìn truyền thống tốt đẹp của cha ông để lại, nhất là truyền thống đoàn kết, yêu thương đùm bọc lẫn nhau; cần cù lao động xây dựng quê hương xóm làng, chăm lo việc học hành và giáo dục con cháu.
Khi mỗi gia đình trong họ trong làng có những việc lớn như cưới xin, tang lễ, làm nhà, cả họ cùng với bà con trong làng đều chú ý quan tâm, trông nom công việc cho nhau như chính công việc nhà mình. Những nhà có khó khăn, khi có công việc lớn thường được quan tâm nhiều hơn, với tinh thần sẻ chia khó khăn và hết sức thông cảm.
+ Mười bảy cửa họ trong làng hiện nay, hầu hết còn có Nhà Thờ ( Từ Đường) của họ. Đó là nơi thờ cúng tổ tiên của cả dòng họ, do cả họ xây dựng lên trên một khu đất riêng. Phần lớn các nhà thờ được xây cách nay hàng trăm năm, thường xuyên được tu bổ,tôn tạo,được giao cho gia đình Trưởng họ trông nom.
Nơi ấy cũng là" trụ sở" của họ, nơi họp bàn giải quyét những công việc chung của họ,nơi tiến hành nghi lễ XuânTế Tổ và các ngày giỗ tổ hàng năm. Nơi đây có một tục lệ ( có thể là duy nhất ở Việt Nam) là ngày 10 tháng Giêng hàng năm, họ nào cũng tổ chức Xuân Tế Tổ. Con cháu ở xa ở gần, từ miền núi cực Bắc đến vùng xa ở miền Nam đều cố gắng về quê, thăm từ đường họ mạc; tưởng nhớ tổ tiên dịp đầu năm mới.
Nếu bạn có dịp vào thăm các ngôi Nhà Thờ Họ ở đây,bạn sẽ được chiêm ngưỡng những bức hoành phi,câu đối, những lời Gia Huấn mang tính giáo dục rất thâm túy, sâu sắc. Ở nhà thờ họ Nguyễn Viết có bức hoành phi “ Nhân bản hồ tổ “ ( Người ta vốn có tổ tiên ); ở nhà thờ họ Lê Nho có bức hoành phi “ Bắc sơn đức thụ “ ( Cây đức ở núi phương Bắc), ca ngợi công đức tổ tiên ; hay ở nhà thờ họ Nguyễn Hữu có đôi câu đối :
Nhất bản tư bồi vinh đức thụ
Tam chi phồn diễn triển gia phong
( Dịch : Một gốc vun trồng xanh tươi cây đức
Ba chi thịnh vượng rạng rỡ gia phong )
Các họ trong làng hầu hết vẫn giữ được Gia Phả, có những họ ghi chép nguồn gốc, sự kiện từ cách đây 4, 5 trăm năm như họ Lê Doãn, Lê Nho, Nguyễn Hữu, Đỗ Trọng, Trịnh Đức, Nguyễn Đình; ít thì cũng 300 năm như họ Lê Đình.Gia phả được ghi trên bia đá, giấy dó bằng chữ Hán và đến nay thường được dịch sang chữ quốc ngữ, đó là những di sản quý báu mà các bậc tiền nhân trong làng còn để lại. Gia phả có ghi chép nguồn gốc của dòng họ, công đức của tổ tiên, cùng những bài gia huấn, tộc ước, Gia giáo ngâm ... răn dạy cháu con.
Ví dụ “Gia giáo ngâm “ của họ Lê Doãn có đoạn:
... Vô tại tửu sắc
Vô nịch cầm kỳ
Vô hiếu tranh tụng
Vô ký thị phi
( Dịch nghiã : Chớ ham mê rượu chè, sắc đẹp
Chớ đắm chìm vào đàn hát, cờ bạc
Chớ ham việc tranh giành kiện tụng
Chớ thích việc đặt điều thị phi ...
Bài Gia huấn của cụ Lê Chu Kiều ( Họ Lê Nho ), dạy con cháu:
Tình nghĩa cha con: Cha phải hiền, con phải hiếu
Tình nghĩa vợ chồng : Phu xướng, phụ tùng
Tình nghĩa anh em : Anh hòa, em kính ; trên hòa dưới thuận
Tại hương lân : phải hết lòng yêu thương mà không yêu ghét
Nếu làm quan: phải giữ thanh khiết, cẩn thận, cần mẫn làm đầu .
Một nét văn hoá khác trong sinh hoạt dòng họ ở thôn Đại Mão là : Các dòng họ dù to dù nhỏ,đều rất tôn trọng,quý mến, đoàn kết với nhau, không chia bè kéo cánh, cậy thế cậy quyền. Các dòng họ đều gần gũi, thân thiết nhau,chung sức xây dựng một miền quê mà người dân các vùng xung quanh từ xưa đã yêu mến và ca ngợi là Đất Văn Hiến.
Qua một số nét nói trên,chúng ta cũng có thể thấy là các dòng họ ở đây là cái nôi, là môi trường giáo dục con người.
Nhiều người dân nghĩ giống như một đoạn trong Lời nói đầu của “Lịch sử họ Lê Đình (tức Gia phả - Dịch từ chữ Hán và bổ xung năm1986): “ Một trong những tình cảm cao đẹp nhất của con người là lòng yêu Tổ Quốc. Chỉ có thể có tình yêu lớn ấy khi ta đã biết quý biết yêu những gì gần gũi nhất quanh ta quanh ta như bờ tre, mái đình giếng nước quê ta. Cũng chỉ có thể yêu thương dân tộc, giống nòi khi ta đã biết yêu thương những người gần gũi nhất quanh ta : ông bà, bố mẹ, anh em họ hàng, hàng xóm láng giềng, bạn bè thân hữu..."
+ Truyền thống cần cù lao động xây dựng gia đình, xây dựng quê hương
Do hoàn cảnh tự nhiên, đất chật người đông, trước đây thường xuyên phải chống chọi với bao thiên tai,lũ lụt, nên đời sống người dân khá vất vả. Nhưng nhờ được giáo dục chu đáo cho nên các thế hệ người dân Đại Mão ngoài việc chăm học còn cả chăm làm; cần cù lao động xây dựng quê hương và gia đình mình.
Người Đại Mão chịu khó làm và làm giỏi nhiều nghề, nhất là nghề nông : cấy lúa đồng nhà, có khi còn đi vỡ hoang hàng trăm mẫu ruộng ở xa hàng chục cây số để cày cấy. Họ trồng ngô, trồng mía, trồng đỗ, trồng đay, các loại rau màu phục vụ sinh hoạt và xuất khẩu. Gần đây nhất là khôi phục lại nghề trồng dâu nuôi tằm. Ngoài ra, họ còn giỏi làm nghề thủ công; dệt vải vuông khổ hẹp rồi khổ rộng,dệt màn, khăn bông... Nghề dệt từng là một nghề phát triển mạnh một thời gian dài hàng mấy trăm năm, nay chuyển sang may gia công hàng vải màn tiêu dùng trong nước và phục vụ xuất khẩu .
Người Đại Mão còn biết làm nhiều nghề khác như nghề xây dựng hoặc đi xa quê làm các công việc khác ở khắp mọi miền tổ quốc, lực lượng này có đến 6,7 trăm người. Hàng trăm người tham gia dạy học ở các cấp học,chỉ riêng giáo viên Trung học phổ thông người quê làng Giữa cũng có thể đủ để dạy ở một trường THPT. Cần cù,cơ chỉ làm ăn, chi tiêu có kế hoạch cho nên ở đây kinh tế khá phát triển, việc xây dựng cơ bản khá tốt. Cả làng không còn nhà tranh vách đất, nhiều người đã xây được nhà kiên cố 2,3 tầng. trong đó có những chủ nhân trẻ chỉ hơn 30 tuổi . Phương tiện đi lại, sinh họat vật chất và tinh thần, việc học hành của người dân nói chung thuộc loại khá trong vùng.
Một vài phong tục
Bên cạnh cái chung như nhiều làng quê Việt Nam khác , Đại Mão có những phong tục tập quán khác với các nơi, mang dáng dấp riêng và tương đối độc đáo, đáng chú ý là :
+ Tục lên lão, chúc thọ : Thể hiện sự tôn kính với người cao tuổi theo quan niệm trọng người cao tuổi ( trọng xỉ) có từ xưa tới nay. Hàng năm,cứ dịp tết đến, ai đến tuổi chẵn 60,70, 80,90,100... con cháu, họ hàng làng xóm đến chơi thăm hỏi, chúc mừng, cùng với hiện vật nhẹ nhàng, hoặc tiền, hoặc bài thơ, bức trướng...làm quà cho các cụ được lên lão.
Người được lên lão (trước đây chỉ có cụ ông, gần đây là cả cụ bà) tổ chức một bữa sinh hoạt nhẹ nhàng mời bà con họ hàng gần gũi nhất và con cháu cùng ăn, gọi là ăn cỗ khao lão.
Nói chung ở đây cỗ khao lão có quy mô hạn chế .Nhà nào có khó khăn không tổ chức được làng xóm cũng thông cảm và còn khuyên gia đình tiết kiệm, không như ở một số nơi coi như là một hình thức trả nợ miệng lẫn nhau .
Hiện nay, các cụ được lên lão còn được mời ra Đình làng để tập thể chúc thọ vào sáng ngày mồng 2 tết. Hội Người Cao tuổi có thơ,có quà chúc thọ cho từng cụ .
+ Tục Lễ giỗ : Tất cả các gia đình trong làng, nếu ngày mai là ngày giỗ ông bà, bố mẹ hoặc người thân , thì tối hôm nay con cháu , họ đương, xóm giềng đến chơi lễ giỗ, ngồi chơi xơi nước rất đông.
Đó là một cách tưởng niệm người đã khuất, thể hiện tình cảm ruột thịt thân mật gần gũi với gia đình và những người đang sống. Đó cũng là dịp để giao tiếp, gắn bó thêm tình cảm của mọi người trong làng : Trong câu chuyện buổi tối hôm đó, có thể là câu chuyện về công đức của người xưa, có thể là chuyện sản xuất công tác, chuyện thời tiết, thời sự hoặc chủ trương chính sách mới của Đảng và Nhà nước, về chuyện học hành của con em...
Lễ giỗ là một nét sinh hoạt văn hóa độc đáo của người làng Giữa. Việc cỗ bàn hôm sau, tùy điều kiện gia chủ ai được đến mời lại ( trừ người nhà quá gần gũi được dặn từ trước ) thì mới đến ăn.
Việc đi lễ giỗ gần như không ai phải mời, mọi người tự nhớ,tự đến chơi coi như là một quyền lợi và trách nhiệm của mình vậy ./. Th. 5/ 2002
======================================
Bài viết giới thiệu về quê hương, tháng 5 năm 2002. Mới khoảng 10 năm, nhiều thay đổi quá!
Thay đổi nhiều nhất là cảnh quan làng xã. Nhà tầng nhiều hơn, đường xá khang trang hơn, ô tô, xe máy nhiều hơn, mâm cỗ đầy hơn...
Nhưng có những cái đã mất đi, dâu tằm chẳng hạn...
Có những nét đẹp mới..., nhưng cũng có cái xấu mới xuất hiện.
Mong sao quê hương ngày một đẹp, một giầu. Cái gì cũ mà lạc hậu mất đi cũng không sao.
Những gì đẹp cần giữ mãi...
Mùa thu 2011 =================================

Có những nét đẹp mới...nhưng cũng có cái xấu mới xuất hiện...CÁI XẤU MỚI ĐÂY LÀ CÁI XẤU GÌ ,HÃY NÓI THẲNG RA ĐI ĐỂ CHO CON DÂN LÀNG ĐẠI MÃO SỬA SAI ĐỂ TIẾN BỘ CHỨ ĐƯNG ÚP MỞ....Hãy làm những gì tốt đẹp nhất để giúp đời giúp mình,nói cũng hay song cả đời chưa chắc đã vót nổi que tăm!!...
Trả lờiXóaNhận xét này đã bị tác giả xóa.
Trả lờiXóaSao lại xoá vậy????
XóaTrình độ " văn , chữ " cũng chỉ đến vậy ....
XóaKhông xóa nổi nửa à ..???
Không tung hô cho thằng Thanh ...thằng Thu được nữa hả
Nhận xét này đã bị quản trị viên blog xóa.
Trả lờiXóaĐể cho cả làng coi , bàn dân thiên hạ hiểu , sao phải xoá
XóaCÁI XẤU MỚI ĐÂY LÀ CÁI XẤU GÌ ,HÃY NÓI THẲNG RA ĐI ĐỂ CHO CON DÂN LÀNG ĐẠI MÃO SỬA SAI ĐỂ TIẾN BỘ CHỨ ĐƯNG ÚP MỞ...? Một trong những cái xấu của một số người ở trong làng là hay chỉ trích, vì mâu thuẫn cá nhân mà hay nói chỗ nọ chỗ kia nhưng khi gặp đối tượng thì lại không nói thẳng. Khi viết ở trên trang này thì không dám công khai danh tính mà là Nặc danh hoặc Màn khung Inox. Có gì cứu trao đổi thẳng thắn, công khai ...
XóaCon cháu và th L...Đ.. Ng giỏi nhất nhì làng
XóaTung hô cho th..l..nh..thu chó mà
Toàn lũ ....
Có những nét đẹp mới...nhưng cũng có cái xấu mới xuất hiện...CÁI XẤU MỚI ĐÂY LÀ CÁI XẤU GÌ ,HÃY NÓI THẲNG RA ĐI ĐỂ CHO CON DÂN LÀNG ĐẠI MÃO SỬA SAI ĐỂ TIẾN BỘ CHỨ ĐƯNG ÚP MỞ....Hãy làm những gì tốt đẹp nhất để giúp đời giúp mình,nói cũng hay song cả đời chưa chắc đã vót nổi que tăm!!...Được đấy ..................
Trả lờiXóaCó những nét đẹp mới...nhưng cũng có cái xấu mới xuất hiện...CÁI XẤU MỚI ĐÂY LÀ CÁI XẤU GÌ ,HÃY NÓI THẲNG RA ĐI ĐỂ CHO CON DÂN LÀNG ĐẠI MÃO SỬA SAI ĐỂ TIẾN BỘ CHỨ ĐƯNG ÚP MỞ....Hãy làm những gì tốt đẹp nhất để giúp đời giúp mình,nói cũng hay song cả đời chưa chắc đã vót nổi que tăm!!...ghê thật các GIÁO .... có khác
Trả lờiXóaTài ba , lỗi lạc chi ông gáo
Trả lờiXóaDăm ba câu chữ với vần gieo
Khôn ngoan chẳng để thiên hạ nháy
Ngày ngày khoa nghĩa tìm câu chữ
Gieo vần gieo nghĩa đám huênh hoang
Xuất thân cũng chỉ đ..ám bần cố ...
Người đứng đắn công khai danh tính, nói năng lễ độ bạn ơi
Trả lờiXóa"Đứng d..ái " lũ ...bần ...cố ...
Trả lờiXóaToàn kể "ăn cháo"..." đái bát "